Ngân hàng lãi lớn bất chấp dịch Covid-19: Mừng hay lo?

Mặc dù phải đối mặt với làn sóng COVID-19 thứ tư, song lợi nhuận của ngành ngân hàng vẫn được dự báo tích cực trong quý II/2021.

Theo đó, tại hội nghị sơ kết hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2021 của ngân hàng VietinBank, Chủ tịch ngân hàng Lê Đức Thọ cho biết, dự báo lợi 6 tháng đầu năm 2021 tăng trưởng 75% so với cùng kỳ, lên mức 13.000 tỷ đồng, tổng tài sản của ngân hàng cũng tăng 8%.

Tương tự, Vietcombank cũng được dự báo lợi nhận 6 tháng đầu năm đạt 14.560 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước và bằng 57,8% kế hoạch cả năm. Lợi nhuận trước thuế trích lập dự phòng rủi ro đạt 19.561 tỷ đồng. Với con số lợi nhuận như này, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí quán quân về lợi nhuận trong ngành ngân hàng.

Một ngân hàng khác là MSB cũng dự báo lợi nhuận 6 tháng đầu năm đạt 2.800 tỷ đồng, cao gấp 3 lần cùng kỳ năm trước.

Tại LienVietPostBank cũng tiết lộ lợi nhuận 5 tháng đầu năm đã đạt khoảng 1.700 tỷ đồng, tính ra bình quân mỗi tháng lãi khoảng 370 tỷ đồng. Nếu đà này được duy trì trong tháng 6 thì lợi nhuận của LienVietPostBank 6 tháng đầu năm sẽ khoảng 2.000 tỷ đồng, bằng 80% so với kết quả của cả năm 2020.

Tính đến ngày 15/6/2021, tín dụng toàn nền kinh tế đã tăng trưởng 5,1% so với cuối năm 2020, cao gấp đôi so với tốc độ tăng cùng kỳ năm 2020 (2,26%). Nhiều ngân hàng chưa hết 6 tháng đã dùng gần hết hoặc hết room tín dụng tăng trưởng của cả năm và đang xin NHNN cấp cho room mới.

Ngân hàng lãi khủng là từ đâu?
Đề cập đến lợi nhuận “khủng” của các ngân hàng, ông Nguyễn Quốc Hùng – Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, đó là kết quả của cả một quá trình và được tổng hợp từ nhiều yếu tố.

Thứ nhất, bản thân các tổ chức tín dụng đã tự củng cố, nâng cao được năng lực quản trị, năng lực tài chính của mình.

Đơn cử, năng lực tài chính được nâng cao thông qua biện pháp tăng vốn điều lệ. Gần như tất cả các tổ chức tín dụng đã tăng được vốn điều lệ để đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR) theo quy chuẩn quản trị rủi ro quốc tế Basel II.

Nhiều ngân hàng trong nhiều năm liền không chi trả cổ tức cho cổ đông để dành nguồn lực vốn cho tương lai. Đây chính là một trong những cơ sở tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng đảm bảo an toàn hệ thống của chính mình, qua đó giúp tăng năng lực quản trị một cách bền vững.

Thứ hai, các tổ chức tín dụng đẩy mạnh tiết giảm chi phí hoạt động. Nhờ sớm đầu tư thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại và tích cực cải cách thủ tục hành chính đã giúp các ngân hàng tiết giảm được rất nhiều chi phí hoạt động, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, những sự đầu tư này đã phát huy hiệu quả rất tốt.

Đặc biệt, phải kể tới sự hình thành ngân hàng số – một trong những bước chuyển mạnh mẽ của ngành Ngân hàng nhằm mang tới sự giản tiện cho người sử dụng. Nhưng từ phía các tổ chức tín dụng cũng có điều kiện tiết giảm chi phí huy động vốn đầu vào.

Thứ ba, khác với trước kia, nguồn thu của ngân hàng chủ yếu là từ thu lãi vay thì nay, tỷ lệ thu từ dịch vụ tại các tổ chức tín dụng đều gia tăng, có ngân hàng thu dịch vụ đóng góp tới 40% vào lợi nhuận (điều này phù hợp với xu thế quốc tế).

Thứ tư, quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng mang lại hiệu quả cao. Tới nay, 21 tổ chức tín dụng đã mua lại các khoản nợ đã bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC), hoạt động trích lập dự phòng rủi ro cũng được tăng cường.

Bên cạnh đó, sự ra đời của Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu của Quốc hội và hiệu quả trong điều hành kinh tế của Chính phủ đã giúp kinh tế tăng trưởng ổn định, những khoản nợ liên quan đến bất động sản, hoặc những bất động sản tồn đọng trước đây đều được xử lý nhanh và hiệu quả hơn.

Đây là một trong những điểm quan trọng giúp phá tan băng “cục máu đông” nợ xấu, tạo điều kiện luân chuyển vốn trong nền kinh tế, giúp tăng tỷ lệ thu nhập bất thường ở các tổ chức tín dụng trong thời gian qua.

Thứ năm, bản thân các tổ chức tín dụng đã tích cực mở rộng hoạt động dịch vụ như ngân hàng đại lý, bảo hiểm và nhiều hoạt động khác giúp tăng thu nhập từ các hoạt động này.

Thứ sáu, sau hơn 1 năm tổ chức thực hiện Thông tư số 01/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về việc các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ; miễn, giảm lãi, phí; giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19, đã giúp các tổ chức tín dụng tạm thời chưa phải trích lập dự phòng rủi ro nên cũng giảm được chi phí. Nếu trừ đi khoản này, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm mạnh.

Thứ bảy, lợi nhuận ngân hàng đang được tạm tính trên cả các khoản dự thu của khách hàng theo quy định hiện hành của pháp luật. Nếu khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng phải thoái thu, lúc đó sẽ không được ghi nhận vào lợi nhuận nữa.

Tóm lại, ông Nguyễn Quốc Hùng khẳng định, lợi nhuận ngân hàng đến từ rất nhiều nguyên nhân và là kết quả kết tinh từ một quá trình nỗ lực lâu dài, trong đó có cả việc chịu sự dồn nén từ rất nhiều năm trước khi phải tích góp, thắt lưng buộc bụng để xử lý dự phòng rủi ro, đảm bảo đưa tỷ lệ nợ xấu xuống trong phạm vi cho phép và dành nhiều nguồn lực cho đầu tư công nghệ.

Vì sao ngân hàng lãi lớn là 1 dấu hiệu đáng mừng?
Theo ông Hùng, lợi nhuận đó là hoàn toàn xứng đáng với nỗ lực không mệt mỏi của các tổ chức tín dụng trong chặng đường dài từ năm 2008 tới nay. Đồng thời nhấn mạnh, lợi nhuận ngân hàng cao cần phải được nhìn nhận như một dấu hiệu đáng mừng.

Vì từ đó, các ngân hàng sẽ có thêm nhiều nguồn lực để hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế. Ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt, đo đó, cần phải có những ứng xử và cách nhìn đặc biệt, chứ không nên chỉ nhìn vào lợi nhuận của ngân hàng.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng

Ông Hùng đánh giá, Khác với các doanh nghiệp khác, lợi nhuận ngân hàng tốt sẽ kéo theo hệ quả là hệ số tín nhiệm của các ngân hàng tăng lên, qua đó góp phần nâng hệ số tín nhiệm quốc gia. Do vậy, trong bối cảnh đại dịch hiện nay, lợi nhuận ngân hàng cao phải được nhìn nhận là điều may mắn. Từ đó, ngân hàng mới có thêm nguồn lực để hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.

Cũng theo ông Hùng, lợi nhuận đang được các tổ chức tín dụng cân nhắc sử dụng một cách chặt chẽ và kỹ lưỡng. Dù con số lợi nhuận cao nhưng tỷ lệ chia cổ tức của các ngân hàng chỉ trong khoảng 5-9%, thậm chí có ngân hàng nhiều năm nay chưa chia cổ tức.

Chưa kể, ngân hàng là ngành sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận để tích cực đóng góp vào các hoạt động an sinh xã hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng rất cao.

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành đi đầu và có đóng góp lớn vào các quỹ và hoạt động phòng chống đại dịch COVID-19 do Đảng và Chính phủ phát động thời gian qua (khoảng trên 1.400 tỷ đồng).

Bằng những hành đông cụ thể, ngành Ngân hàng đang thực sự hỗ trợ, tạo điều kiện chia sẻ với doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Đây là những sự chia sẻ thực chất bằng hành động cụ thể chứ không phải chỉ trên lý thuyết.

Cũng cần phải nói thêm, các ngân hàng cũng rất mong muốn được sử dụng phần lợi nhuận có được để tăng vốn điều lệ nhằm ứng phó với những nguy cơ rủi ro trong tương lai – điều rất cần thiết trong bối cảnh dịch bệnh diễn ra hết sức phức tạp. Bản thân các ngân hàng đã rút ra được rất nhiều bài học trong quá trình tái cơ cấu vừa qua, do đó đặc biệt quan tâm đến bảo đảm an toàn hệ thống, an toàn vốn.

Theo Tạp chí điện tử Doanh nhân Việt Nam