Ngày 12-5, tại Hà Nội, đã diễn ra tọa đàm “Quản lý đường cao tốc theo hình thức hợp đồng kinh doanh-quản lý (O&M)”. Tọa đàm do Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI), Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), Ủy ban Quan hệ đối tác công tư thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng với Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) tổ chức.

Quang cảnh buổi tọa đàm

PGS-TS Trần Chủng, Chủ tịch VARSI, cho biết heo mục tiêu của Chính phủ, đến năm 2030-2035, nước ta sẽ có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc, bao gồm tuyến cao tốc dọc trục Bắc-Nam phía Đông, hệ thống đường cao tốc khu vực phía Bắc, miền Trung, phía Nam và hệ thống đường vành đai Hà Nội, TP HCM với tổng mức đầu tư lên tới xấp xỉ 40 tỉ USD.

Hiện nay nước ta đã thực hiện công tác vận hành và quản lý hơn 1.000 km đường cao tốc được xây dựng từ nguồn vốn Nhà nước và vốn của các nhà đầu tư tư nhân theo phương thức đối tác công-tư (PPP). Tuy nhiên, đến nay chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh và bộ tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý, khai thác đường cao tốc. Đây là khoảng trống lớn cần có giải pháp khắc phục càng sớm càng tốt, làm căn cứ quản lý hợp đồng và xử lý các tranh chấp.

TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, cho rằng trong điều kiện ngân sách Nhà nước khó khăn, việc huy động các nguồn vốn xã hội cho đầu tư phát triển giao thông giữ vai trò quan trọng và phương thức PPP mang đến nhiều kỳ vọng. PPP là một chính sách giúp chúng ta đạt cả 2 mục tiêu: Giảm gánh nặng cho Nhà nước, tạo cơ hội cho phát triển kinh tế tư nhân; Nhà nước, người dân và doanh nghiệp cùng có lợi.

“Có nhiều hình thức hợp tác công tư để triển khai việc quản lý khai thác bảo trì đường cao tốc, trong đó, có thể áp dụng hình thức hợp đồng O&M (kinh doanh-bảo trì). Hình thức này được hiểu là Nhà nước làm đường cao tốc, sau đó nhượng quyền vận hành (bao gồm việc thu phí và thực hiện bảo trì) cho nhà đầu tư tư nhân”- ông Lộc nói.

Ông Nguyễn Quang Huy – Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả – phát biểu

Ông Nguyễn Quang Huy – Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV) – cho biết HHV là đơn vị thuộc Tập đoàn Đèo Cả hiện đang thực hiện quản lý vận hành nhiều công trình giao thông trên khắp cả nước từ Bắc đến Nam bao gồm cả các dự án được đầu tư theo hình thức PPP và đầu tư vốn Ngân sách. Với kinh nghiệm gần 20 năm quản lý vận hành công trình hầm giao thông và từ thực tế quản lý khai thác gần 25 km hầm giao thông, gần 330 km cao tốc và quốc lộ, ông Huy đề xuất Bộ Giao thông vận tải nên bổ sung các khu dừng nghỉ, quy mô từ 5-10 ha/bên, coi đây là một cấu phần của đường cao tốc, tổ chức đấu thầu khai thác để các đơn vị quản lý, vận hành khai thác tuyến đường được chủ động thu hút phương tiện.

Bên cạnh đó, ông Huy đề nghị cần khắc phục hạn chế về kinh phí cho công tác bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên và tổ chức thu phí đường cao tốc, do kinh phí này được tính toán theo cách tính cũ, công nghệ cũ, định mức cũ. Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích áp dụng khoa học, công nghệ. Để đơn vị quản lý, vận hành khai thác chủ động đầu tư thiết bị, công nghệ cần có thời gian khai thác, kinh doanh đủ dài (hơn 10 năm).

Để triển khai hình thức kinh doanh-bảo trì đường cao tốc thuận lợi, ý kiến tại tọa đàm cũng nhấn mạnh việc cần có các hướng dẫn cần thiết, trong đó hiện chưa có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên về quản lý, khai thác đường ôtô cao tốc; các văn bản pháp luật điều chỉnh, đặc biệt là các hướng dẫn chi tiết về những điều khoản chủ yếu trong hợp đồng O&M để cả phía nhà nước và nhà đầu tư tư nhân có thể dựa vào đó cùng thương thảo, xây dựng và tổ chức vận hành những dự án hợp tác hiệu quả.

GS-TS Vũ Đình Phụng, Trưởng Khoa Công trình giao thông Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, cho biết đến năm 2030, Việt Nam có tổng số đường cao tốc 5.138 km. Như vậy, chỉ còn 8 năm nữa, thời gian rất ngắn để hoàn thiện nhiệm vụ lớn này. Ông Phụng cũng cho rằng điều bất cập hiện nay là chúng ta chưa có được quy trình khai thác đường cao tốc nên trong công tác quản lý đường cao tốc còn gặp rất nhiều khó khăn.

Đề cập tới mô hình hợp đồng O&M trên thế giới, cụ thể tại Nhật Bản, đại diện Công ty TNHH TAIYU Việt Nam – Thành viên của VARSI chia sẻ tại Nhật Bản, cơ sở hạ tầng công cộng có sẵn và đang thu phí vẫn thuộc quyền sở hữu của cơ quan nhà nước, nhưng quyền vận hành, khai thác sẽ được giao cho một đơn vị tư nhân.


Văn Duẩn